Tiểu sử thầy Chu Văn An

Thầy Chu Văn An (1292 - 1370), tên chữ là Linh Triệt, hiệu là Tiều Ẩn, người huyện Thanh Trì, Hà Nội. Ông thi đậu Thái học sinh nhưng không ra làm quan mà ngồi dạy học. Học trò theo học rất đông, nhiều người đỗ đạt cao: Phạm Sư Mạnh, Lê Quát,...
Vào niên hiệu Khai Thái (1324-1329) triều Trần Minh Tông ông được triệu vào cung vua dạy con vua (Trần Vượng), rồi dạy vua (Hiến Tông) và làm tư nghiệp Quốc Tử giám (như chức hiệu phó đại học bây giờ).
Đến triều Trần Dụ Tông (1341-1369) thì xã hội nhiễu nhương lắm. Dụ Tông là tay ăn chơi thích tửu sắc hát xướng. Cận thần là lũ bất tài nịnh hót vua để lộng hành. Dân tình đói khổ.
Thầy Chu Văn An vốn người điềm đạm, ít ham muốn, nhưng tính tình rất thẳng thắn ngạch trực (chữ của Hô Nguyên Trừng). Nhìn tình cảnh các trung thần nghĩa sĩ bị hãm hại, các quan ngự sử chuyên việc can vua giờ chỉ biết ngồi im ăn lộc, (ai có ý định can vua, gia đình phải phát tang làm ma sống rồi mới vào triều). Thầy Chu Văn An đã dâng sớ xin chém đầu bảy gian thần. Sớ thất trảm ấy không còn, ngay đương thời cũng ít người được đọc nên không biết ông xin chém những ai.
Có thể vua Dụ Tông muốn tránh rắc rối cho triều đình và giữ yên cho Chu Văn An nên đã hủy đi. Dù thế, thất trảm sớ đã gây chấn động dư luận, nói như người xưa: làm kinh động quỷ thần, và trở thành biểu tượng chói sáng của thái độ trí thức trước thời cuộc, của bản lĩnh thầy Chu Văn An.
Theo cụ Phan Huy Chú, thầy Chu Văn An có hai tập thơ, tập thơ Hán có tên "Tiểu ẩn thi tập" còn tập thơ nôm có tên "Tiểu ẩn quốc ngữ thi tập", và một bộ giáo trình Tứ thư thuyết ước. Nhưng hiện nay chỉ còn 12 bài chữ Hán, đây là thơ Chu Văn An viết khi lui về ở ẩn tại núi Phượng Hoàng, Chí Linh, Hải Dương.
Nói chung thơ các ẩn sĩ thường có phong vị u nhàn. Nhưng với thầy Chu Văn An u nhàn chỉ là ở cái giọng thơ. Thơ ông chịu ảnh hưởng của đạo Phật như nhiều nhà thơ thời ấy, nhưng chủ yếu hơn thơ của ông hiện thực, tin vào sự chiêm nghiệm của mình, không thiên kiến, không theo những nếp nghĩ có sẵn. Thấy cá thì nói cá, thấy mây thì nói mây, chứ không theo thói thường các ẩn sĩ nói mây thì lại tả hạc, nói ao lại tả rồng, trong khi chẳng thấy rồng đâu, hạc đâu:
Cá bơi trên ao cũ,
rồng ở chốn nào
Mây đầy núi vắng,
hạc chẳng thấy về
(theo bản dịch nghĩa bài Miết Trì)
Chính vì cách suy nghĩ ấy nên khi thơ ông ca ngợi sự lánh đời, chúng ta lắng nghe vẫn thấy ở phía sau một nỗi niềm không thoát tục.
Ông ở ẩn là do tình thế bắt buộc, sau khi dâng thất trảm sớ làm sao ông có thể ở kinh đô được. Ông ở ẩn mang theo một chí nguyện không thành, muốn giúp đời mà không giúp được, chứ đâu phải vì ham thú tiêu dao.
Ca ngợi hạc nội mây ngàn cũng chỉ là cách tự an ủi. Hướng lòng về thiên nhiên chỉ để dịu nỗi buồn nhân thế. Nhiều lúc ông không giấu được nỗi xót xa:
Công danh trót lạc vào hư ảo
Hồ hải rong chơi bớt nỗi sầu